1. Nguyên nhân gây bệnh phó cúm

Virus bệnh phó cúm ở chó (canine parainfluenza virus – CPIV) là một thành viên của họ (family) Paramyxoviridae, bao gồm virus bệnh sài sốt chó (canine distemper virus), virus 5 ở loài linh trưởng (simian virus 5 – SV-5), và virus bệnh sởi ở người (human measles) và bệnh quai bị ở người (mumps). Các virus ở người, loài linh trưởng và virus phó cúm 2 ở chó (canine type 2 parainfluenza) được gọi là các virus thuộc SV-5 (SV-5-like viruses) do có liên quan gần gũi về tính kháng nguyên. Các nghiên cứu đối với kháng thể đơn giá đã cho thấy các khác biệt nhỏ giữa các dòng phân lập của SV-5. Có hay không khác biệt ở các dòng phân lập của SV-5 về khả năng truyền lây qua người, các loài linh trưởng và chó là vấn đề đang được xem xét. Các phân tích về kết chuỗi gen di truyền đã xác nhận tính tương đồng mà cho ra một đề xuất về đổi tên cho virus ngắn gọn thành parainfluenza virus-5. Virus này đã có liên quan đến các bệnh nhiễm ở hệ thần kinh trung ương của chó (xem phần Các phát hiện lâm sàng).

Virus có liên quan đến bệnh hô hấp ở chó là CPIV, gây bệnh ho cấp tính, tự khỏi trong hội chứng hay phức hợp bệnh nhiễm đường hô hấp ở chó và được ghi nhận khắp thế giới là nguyên nhân quan trọng của bệnh hô hấp ở chó. Các nghiên chứ huyết thanh học cho thấy là tổnt lưu hành của CPIV trong quần thể chó là cao, nhưng có biến thiên. Ít có bằng chứng là CPIV có thể gây bệnh ngoài đường hô hấp. Thực nghiệm cấy CPIV vào chó con sơ sinh có thể làm cho virus phát tán đến các mô nội quan. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy là các paramyxoviruses cũng có thể gây bệnh nặng nề hay bệnh không ở đường hô hấp của chó già tuổi hơn. Ngoài ra, virus phó cúm đã phân lập được một cách thực chất trong dịch tuyến tiền liệt (prostatic fluid ) của một chó.

2. Các phát hiện lâm sàng

Một biến thể của parainfluenza virus-5 đã phân lập được từ dịch não tủy của chó 7 tháng tuổi bị mất điều hòa vận động và bại liệt kéo dài 3 đến 4 ngày. Chó này đã được chủng ngừa vaccin bệnh sài sốt chó lúc 7,5 tuần tuổi. Chó con chưa từng nhiễm bệnh được cấy vào não bằng dòng phân lập của virus này, đã phát triển hai dạng bệnh lâm sàng.5,6 Một số chó phát triển viêm não cấp tính, có đặc điểm là co giật, chuột rút (co rút cơ không chủ đích), và các dấu hiệu thần kinh tiến triển trong vòng vài ngày sau khi cấy gây bệnh. Có 5/6 chó đã được cấy gây bệnh, được theo dõi trông tháng sau khi cấy, đã phát triển tích nước sọ não (internal hydrocephalus), mặc dù các dấu hiệu lâm sàng không nhận thấy được thời gian này. Tích nước sọ não được cho là hậu quả của viêm ỏ lớp tế bào lót màng trong xoang não tủy (ependymitis) gây giảm hấp thụ dịch não tủy, với có hay không tắc ngẽn đường ống dẫn dịch (xem Chương 82 để biết thêm thông tin về dạng tích nước sọ não này ở các trường hợp có nghi ngờ về nguyên nhân truyền nhiễm). Chồn ferret 7 tuần tuổi có huyết thanh âm tính được cấy vào não bằng một dòng phân lập của parainfluenza virus-5 đã cho thấy phát triển viêm màng trong xoang não tủy tự khỏi, không sinh mủ (self-limiting nonsuppura­tive ependymitis) và viêm màng trạch đáy mắt (choroiditis). Các nghiên cứu tiếp theo đã nhận diện virus thuộc dòng chủng SV-5, có CPI+, và sau khi cấy dòng này vào một chó chưa từng nhiễm bệnh, đã phân lập được một vius phú cúm thứ nhì, có CPI–. Virus có CPI– thể hiện là dòng biến dị tiến hóa ở nội môi trường với các đặc tính cho phép chúng tồn tại trong ký chủ.

Một chó con 6 tuần tuổi với thể hiện tiêu chảy do viêm ruột xuất huyết cấp tính. Mặc dù đã phân lập được một biến thể của paramyxovirus, nhưng virus này không được xác nhận là chịu trách nhiệm đối với bệnh lâm sàng.

Ở đây chưa rõ là có hay không các dạng bệnh ở hệ thần kinh trung ương hay ở dạ dày ruột, do các biến thể của paramyxovirus, mà xảy ra theo tần suất trong các hoàn cảnh tự nhiên. Các bệnh thần kinh thường được ghi nhận nhiều hơn như là biến chứng của bệnh nhiễm các paramyxovirus khác, như ở bệnh sài sốt chó và ở người bị bệnh sởi bệnh quai bị (xem phần sau). Ở chuột thí nghiệm, các paramyxoviruses khác đã cho thấy gây ra viêm não (enceph­alitis) và tích nước sọ não (hydrocephalus) giống như tình trạng mà biến thể này của paramyxoviral được tiêm vào chó. Một dạng tích nước sọ não bị tắc ngẽn ống dẫn (obstructive hydrocephalus) và có liên quan đến viêm quanh não thất (periventricular encephalitis) đã được báo cáo ở cáo con; tuy nhiên không xác định được tác nhân gây bệnh. Viêm não (encephalitis), viêm não thất (periventriculitis), và tích nước sọ não với nghi ngờ do vi khuẩn đã được mô tả ở chó con.

3. Chẩn đoán

Viêm não hay tích nước sọ não do paramyxovirus có thể xác nhận được trong huyết thanh học bằng xét nghiệm ức chế ngưng kết hồng cầu (hemagglutination inhibition assay); tuy nhiên, do lưu hành cao của kháng thể trong các quần thể chó và thủ tục áp dụng vaccin đối với CPIV, việc xác nhận bệnh nhiễm cần phải chứng minh có gia tăng hiệu giá kháng thể huyết thanh. Hiệu giá kháng thể kháng biến thể parainfluenza virus 5 đã cho thấy tồn tại lâu dài trong chó sau khi gây nhiễm thực nghiệm. Việc phân lập virus có thể thực hiện bằng sử dụng dịch não tủy của chó bị nhiễm. Ngoài ra, các phương pháp kháng thể huỳnh quang trực tiếp (direct fluorescent antibody) có thể áp dụng được để phát hiện các virus trong mô thần kinh. Với những trường hợp viêm ruột, xét nghiệm phân lập virus và soi kính hiển vi điện tử mẫu phân là có giá trị nhất. Các kỹ thuật huyết thanh học như trung hòa virus (virus neutralization) hay ức chế ngưng kết hồng cầu (hemagglutination inhibition) phải được áp dụng để phân biệt các dòng paramyxoviral biến thể từ CPIV.

4. Điều trị

BẢNG 6-2
Các chọn lựa điều trị đối với bệnh truyền nhiễm đường hô hấp của chó (CIRD)
Thuốca Liều lượng (mg/kg)b Đường cấp Khoảng cách thời gian (giờ) Liệu trình (ngày)
ANTIMICROBIALSc

Amoxicillin-clavulanate

12.5-25 PO 12 10-14 (tối thiểu)
Azithromycin 5.0 PO 24 5-7
Doxycycline 2.5-5.0 PO 12 10 (tối thiểu)
Enrofloxacin 5.0 PO 24 10
Trimethoprim-sulfonamide 15 PO 12 10-14 (tối thiểu)
ANTITUSSIVES

Hydrocodone

0.22 PO 8-12 prn
Butorphanol 0.55 PO, SC 8-12 prn
GLUCOCORTICOIDS

Prednisolone

0.25-0.5 PO 12 3-5
BRONCHODILATORS

Aminophylline

10 PO 8-12 prn
Terbutaline 2.5 PO, SC 8-12 prn

PO, Cấp đường uống; prn, theo cần thiết; SC, tiêm dưới da.

a Để biết thêm thông tin về các thuốc kháng sinh, xem phần Công thức thuốc trong Phụ lục.

b Liều lượng cấp trong khoảng thời gia chỉ định

 

Điều trị bằng khí dung (hay phun sương – nebulization) là việc tạo ra một huyễn dịch dạng đặc biệt trong một hỗn hợp khí, thường là oxygen. Thú bệnh CIRD được hưởng lợi nhiều nhất từ điều trị bằng khí dung, do chúng thường bị tích tụ các chất tiết của khí quản và phế quản, bị phụ nhiễm ở phế quản hay phổi, nhất là do B. bronchiseptica. Các ống bơm nhỏ, cầm tay, dùng một lần để tạo khí dung thường là rẻ tiền và sẵn có trong các nhà thuốc. Khoảng 6 đến 10 mL nước muối sinh lý có thể phun khí dụng trong 15 đến 20 phút, áp dụng 1 đến 4 lần mỗi ngày. Oxygen được cấp ở các tỷ lệ thấp từ 3 đến 5 L/phút để tạo khí dung cho dung dịch nước muối sinh lý này. Điều trị bằng khí dung phải được thực hiện trong môi trường bệnh viện. Hầu hết chó bệnh đáp ứng tốt với điều trị khí dung và thường không cần cầm cột sau lần điều trị đầu tiên.

Ở đây không thấy có hiệu quả đối với việc tạo khí dung cho các chất dung giải chất nhày (mucolytic agents), như acetyl­cysteine, mà có thể gây kích ứng và kích thích co thắt phế quản. Hơn nữa, việc gây tan chảy các chất tiết đặc dính của đường hô hấp có thể không phải là phương cách hiệu quả cho dễ dànglàm sạch đường thông khí. Khí dung của các dung dịch glu­cocorticoid, như methylprednisolone sodium succinate, chưa được nghiên cứu kỹ trong dược thú y. Tuy nhiên, trong cơn ho cực điểm mà có thể dẫn đến tắc ngẽn đường thông khí, điều trị này có thể cho hiệu quả ngắn hạn.

Những chó không có đáp ứng với các chất kháng sinh cấp đường miệng hay nhu mô có thể đáp ứng với các chất kháng sinh theo đường khí dung. Tạo khí dung cho các chất kháng sinh bề mặt không bị hấp thụ, như kanamycin, gentami­cin, và polymyxin B, đã cho thấy có hiệu quả giảm quần thể B. bronchiseptica trong khí quản và phế quản của chó bị nhiễm đến 3 ngày sau khi ngưng điều trị  Mặc dù các dấu hiệu lâm sàng không bị triệu tiêu, nhưng mức độ nặng nề của các dấu hiệu đã giảm rõ rệt.

Nếu bạn muốn tìm hiểu rõ hơn về bệnh phó cúm trên chó và các dịch vụ khác tại Phòng Khám Thú Y Đà Nẵng Family Pet. Bạn có thể liên hệ trực tiếp với số hotline: 0384224247. hoặc facebook. Phòng khám thú y Đà Nẵng có các dịch vụ cấp cứu chó mèo 24/7, khám và điều trị tại nhà, chích ngừa , tẩy giun, pet shop,…. Hân hạnh được phục vụ quý khách.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

https://thuydanang.vn/wp-content/uploads/2023/04/Phong-kham-thu-y-da-nang-mypetclinic.jpg
About
146 Lê Duy Đình, Chính Gián, Thanh Khê, Đà nẵng
0777166466
Thứ 2 - Chủ Nhật: Tất cả các ngày trong tuần
Đăng ký nhận thông tin